Chuyển đến nội dung chính

Daijō daijin – Wikipedia tiếng Việt


Thái Chính Đại Thần (太政大臣 Daijō daijin?) là người đứng đầu hệ thống Thái Chính quan (Daijō-kan) thời kỳ Heian ở Nhật Bản và một thời gian ngắn dưới thời Hiến pháp Minh Trị. Vị trí này, cùng với phần còn lại trong cơ cấu Thái chính ban đầu được lập ra bởi Bộ luật Taihō năm 702.

"Thái Chính Đại Thần" chủ trì Thái Chính Quan, và kiểm soát mọi quan lại trong triều, đặc biệt là Tả Đại Thần (左大臣, Sadaijin) và Hữu Đại Thần (右大臣, Udaijin), cũng như bốn vị đại nhân chủ chốt trong hội đồng và ba vị nhỏ hơn. Các bộ phụ trách các công việc khác của triều đình. Phẩm hàm của Thái chính đại thần là Chính nhất vị (正一位) hoặc Tòng nhất vị (従一位). Do Chính nhất vị thường chỉ được truy phong nên Thái chính đại thần còn sống thường là Tòng nhất vị.

Vì gia tộc Fujiwara luôn kiểm soát vị trí Nhiếp chính quan bạch, thu nhận ảnh hưởng nên quyền lực của các cơ quan trong triều ngày một giảm sút. Cho đến thế kỷ 10, Thái Chính Đại Thần không còn quyền phát ngôn trừ khi họ đồng thời là Nhiếp chính, nếu không thì phải được nhà Fujiwara ủng hộ. Mặc dù vị trí này vẫn tồn tại trên danh nghĩa cho đến năm 1885, cho đến đầu thế kỷ 12, vị trí này thực chất không có quyền lực, và thường bị bỏ khuyết, vì các Nhiếp chính quan, đôi khi giữ chức Tả hay Hữu Đại Thần, giữ mọi quyền lực hành chính trong triều. Về sau, Thái chính đại thần thường được ban cho Nhiếp chính quan bạch hay Tướng quân về hưu hoặc truy phong cho họ sau khi qua đời.

Cơ quan này được phục hồi dưới Hiến pháp Minh Trị với việc bổ nhiệm Sanjo Sanetomi năm 1871, trước khi hoàn toàn bị xóa bỏ năm 1885.





Quyền lực thực sự của triều đình thời kỳ trước Minh Trị rơi xuống mức thấp nhất trong những năm Mạc phủ Tokugawa, và cơ cấu Thái Chính Quan vẫn tiếp tục tồn tại. Không thể đánh giá bất kỳ một cơ quan nào nếu không bàn đến vai trò của nó trong hoàn cảnh của một mạng lưới lâu bền và thiếu linh hoạt và một hệ thống cấp bậc quan lại.[1]

Vị trí cao nhất trong triều dễ xác định.[2] Danh sách này có thể đưa ra một cái nhìn khái lược về hệ thống quan lại trong triều:[3]


  • 1. Thái Chính Đại Thần (太政大臣 Daijō daijin?)[4]

  • 2. Tả Đại Thần (左大臣 Sadaijin?).[6]

  • 3. Hữu Đại Thần"" (右大臣 Udaijin?).[6]

  • 4. Nội Đại Thần (内大臣 Naidaijin?).[6]

  • 5. Đại Nạp Ngôn (大納言 Dainagon?). Thường thì có ba người,[6] đôi khi nhiều hơn.[7]

  • 6. Trung Nạp Ngôn (中納言 Chūnagon?).[6]

  • 7. Thiếu Nạp Ngôn (少納言 Shōnagon?). Thường có ba người.[6]

  • 8. Tham Nghị (参議, "Sanghi"?). Chức năng của vị trí này là quản lý các hoạt động trong Hoàng cung.[8]

  • 9. Ngoại Ký (外記 Geki?). Đây là một chức quan đặc biệt chỉ hành động theo ý của Thiên Hoàng.[6]

  • 10. Tả Đại Biện (左大弁 Sadaiben,?)[5] Chức quan này được bổ nhiệm để giám sát 4 bộ: Trung Bộ Tỉnh, Thức Bộ Tỉnh, Trị Bộ Tỉnh, và Bộ thu thuế.[6]

  • 11. Hữu Đại Biện (右大弁 Udaiben?)[5] Chức quan này được bổ nhiệm để giám sát 4 bộ: Binh Bộ Tỉnh, Hình Bộ Tỉnh, Đại Khố tỉnh và Cung Nội tỉnh.[6]

  • 12. Tả Trung Biện (左中弁, Satchūben?).[6]

  • 13. Hữu Trung Biện (右中弁, Utchūben?).[6]

  • 14. Tả Thiếu Biện (左少弁, Sashōben?).[6]

  • 15. Hữu Thiếu Biện (右少弁, Ushōben?).[6]

  • 16. Tả Đại Sử (左大史, "Sadaishi"?).[6]

  • 17. Hữu Đại Sử (右大史, "Oudaishi"?).[6]

  • 18. Sử Thiếu Thừa (史少丞, Shi shō-shō?). Có 20 vị quan giữ chức này.[6]

Tám bộ[sửa | sửa mã nguồn]


Chỉ một danh sách các chức quan trong triều không thể hiện đầy đủ chức năng thực sự của Daijō-kan; nhưng ít nhất mối liên hệ khái quát cũng trở nên dễ dàng nhận diện hơn:


  • Trung Vụ tỉnh (中務省, Nakatsukasa-shō?).[9]; đứng đầu 8 bộ, thường do Hoàng tử nắm giữ, thân cận Hoàng đế, lo xe ngựa, tuỳ tùng, làm cố vấn và đảm nhận công tác văn thư cho Hoàng gia.

  • Thức Bộ tỉnh (式部省, Shikibu-shō?); còn được gọi là "Bộ cai quản tư pháp và hướng dẫn công cộng ".[6]; đảm nhận công tác nhân sự, khen thưởng, giáo dục, thi cử, lễ nghi triều đình, trông coi các lăng mộ Hoàng gia.

  • Trị Bộ tỉnh (治部省, Jibu-shō?); còn được biết đến như "Bộ Nội vụ".[10]; trông coi về đăng ký hộ tịch, lễ nghi dân gian, tôn giáo, ngoại giao, giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực quản lý.

  • Dân Bộ tỉnh (民部省, Minbu-shō?).[6]; đảm nhận việc thống kê dân số, ruộng đất, tài nguyên, thu thuế.

  • Binh Bộ tỉnh (兵部省, "Hyōbu-shō"?).[6]; trông coi quân đội, vũ khí, từ khi chế độ Mạc phủ thành lập thì quan đứng đầu Binh bộ là Binh bộ khanh là người thay mặt Thiên hoàng làm việc với Mạc phủ, tới thời Edo thì Binh bộ khanh thường bị bỏ qua.

  • Hình Bộ tỉnh (刑部省, Gyōbu-shō?).[11]; đảm nhận hình luật, xét xử, tù ngục.

  • Đại Tàng tỉnh (大蔵省, Ōkura-shō?).[12]; quản lý, trông coi kho tàng của triều đình, quy định đo lường, tiền tệ, quản lý việc chi tiêu, chia sẻ chức năng tài chính với Dân bộ tỉnh.

  • Cung Nội sảnh (宮内省, Kunai-shō?).[13]; quản lý công việc trong cung.


  1. ^ Ozaki, Yukio. (2001). The Autobiography of Ozaki Yukio: The Struggle for Constitutional Government in Japan pp. 10-11.

  2. ^ Titsingh, Isaac. (1834). Annales des empereurs du japon, pp. 425-426.

  3. ^ NOTE: Trong danh sách ngắn gọn này, những con số thêm vào là do ý kiến cá nhân, chỉ để giúp việc nắm bắt được các mối quan hệ với nhau. Nếu những số thứ tự này này không giúp ích gì, có thể không cần quan tâm đến chúng.

  4. ^ Titsingh, p. 425.

  5. ^ a ă â Varley, H. Paul. (1980). Jinnō Shōtōki, p.272.

  6. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ [see above] Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “t430” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác

  7. ^ Unterstein (in German): Quan chế trong thời cổ và Minh Trị Nhật Bản (tiếng Anh và tiếng Pháp), pp. 6, 27.

  8. ^ Titsingh, p. 426.

  9. ^ Titsingh, p. 427.

  10. ^ Titsingh, p. 429.

  11. ^ Titsingh, p. 431.

  12. ^ Titisngh, p. 432.

  13. ^ Titsingh, p. 433.


  • (tiếng Nhật) Asai, T. (1985). Nyokan Tūkai. Tokyo: Kōdansha.

  • Ozaki, Yukio. (2001). The Autobiography of Ozaki Yukio: The Struggle for Constitutional Government in Japan. [Translated by Fujiko Hara]. Princeton: Princeton University Press. 10-ISBN 0-691-05095-3 (cloth)

  • (tiếng Nhật) Ozaki, Yukio. (1955). Ozak Gakudō Zenshū. Tokyo: Kōronsha.

  • Sansom, George (1958). A History of Japan to 1334. Stanford: Stanford University Press.

  • Screech, Timon. (2006). Secret Memoirs of the Shoguns: Isaac Titsingh and Japan, 1779-1822. London: Routledge Curzon. ISBN 0-7007-1720-X

  • (tiếng Pháp) Titsingh, Isaac. (1834). [Siyun-sai Rin-siyo/Hayashi Gahō, 1652], Nipon o daï itsi ran; ou, Annales des empereurs du Japon, tr. par M. Isaac Titsingh avec l'aide de plusieurs interprètes attachés au comptoir hollandais de Nangasaki; ouvrage re., complété et cor. sur l'original japonais-chinois, accompagné de notes et précédé d'un Aperçu d'histoire mythologique du Japon, par M. J. Klaproth. Paris: Oriental Translation Fund of Great Britain and Ireland. link for digitized, full-text copy of this book (bằng tiếng Pháp)

  • Varley, H. Paul, ed. (1980). [ Kitabatake Chikafusa, 1359], Jinnō Shōtōki ("A Chronicle of Gods and Sovereigns: Jinnō Shōtōki of Kitabatake Chikafusa" translated by H. Paul Varley). New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-04940-4

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Kinton, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Kinton là một cộng đồng nhỏ chưa hợp nhất nằm trong quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Nó nằm gần bờ phía bắc của sông Tualatin, gần giao lộ giữa Xa lộ Oregon 210 và Đường River, một mạch đường thôn quê chính chạy theo hướng tây bắc đến Hillsboro. Kinton nằm cách Newberg khoảng 8 dặm về phía bắc, cách Beaverton 6 dặm về phía tây nam, và cách Hillsboro 7 dặm về phía đông nam. Cộng đồng này từng là nơi phà (Phà Scholls) băng ngang sông Tualatin giữa Kinton và Scholls gần bên. Trong lúc phà được thay thế bởi một cây cầu thì Xa lộ Oregon 210 vẫn còn được người dân địa phương gọi là Lộ Scholls Ferry . Theo sách Oregon Geographic Names , Kinton được đặt tên của Peter Kindt, một người tiên phong khai phá đất hoang khi xưa khẩn được một mãnh đất gần đó. Kinton có bưu điện riêng của nó từ năm 1894–1903. Kinton là xứ rượu vang của Oregon và trong khu vực này có một số hãng làm rượu nổi tiếng. Mã bưu điện của Kinton là 97007. Mã bưu điện này cũng được dùng chung với một khu vực của thành phố Bea...

1014 - Mùa thu thời trang tại nhà: Gray

Nhiếp ảnh gia: Roger Davies chị em thời trang của chúng tôi trang web ELLE.com đã zeroed trên màu xám như là một trong những xu hướng coveted hầu hết từ các đường băng vào mùa thu năm 2013. Mang nó về nhà bằng cách tham gia một gợi ý từ thiết kế thời trang Monique Lhuillier Beverly Hills Phòng khách, trang trí theo sắc thái tinh tế, bạc màu xám. "Nó rất tonal, nhưng tôi thực sự vào kết cấu- và chúng tôi muốn thoát khỏi màu khi chúng tôi đến nhà từ văn phòng." Coveting tuyệt đẹp màu xám? Đừng bỏ lỡ sáu nhà thiết kế trên những gì họ yêu thích màu xám và tour Lhuillier toàn bộ nhà. kệ tivi kính Mùa thu thời trang tại nhà: Gray

1011 - Thiết kế nội thất - Dog Decor

1 15 nhiếp ảnh gia: Pieter Estersohn giai đoạn Nuba shar-peis đạo diễn Jean-Pascal Lévy-Trumet và tốc độ có được thoải mái trong nhà của ông ở phía Bắc Paris; ghế sofa là bởi Cappellini, và đèn chùm cổ điển được vớt lên từ một mod Champs-Élysées tóc.  2 15 nhiếp ảnh gia: Eric Piasecki Toby, một cockapoo thuộc Istvan Francer của lý thuyết, trong studio thiết kế thời trang nông thôn Connecticut ngày cuối tuần nhà; Vải màn hình bên trái là do lê trí Français.  3 15 nhiếp ảnh gia: Simon Upton Whippets Nigel và Rupert làm cho mình ở nhà trên giường của chủ sở hữu của họ, trang trí của Manhattan, James Andrew, bên dưới của chân dung màu nước của Peter Westcott; Các vải lanh bằng Pratesi. 4 15 trong Harriet Anstruther và nhiếp ảnh gia Henry Bourne 500 tuổi trang trại ở đông nam nước Anh, Elvis, Jack Russell terrier và Spaniel Jack và Lottie curl lên trên ghế sofa; lò sưởi mộc mạc được xây dựng với một thích hợp ở trên nó, nơi mà sự quyến rũ theo truyền thống được đặt để phường giảm ...