Chuyển đến nội dung chính

Xây dựng các vùng kinh tế mới – Wikipedia tiếng Việt


Xây dựng các vùng kinh tế mới là một chính sách của Chính phủ Việt Nam nhằm tổ chức, phân bố lại lao động và dân cư trong cả nước, chuyển một khối lượng lớn dân cư từ các vùng đồng bằng và thành phố tới các vùng trung du, miền núi, biên giới, hải đảo. Chính sách này được triển khai tại miền Bắc Việt Nam từ năm 1961 và trên toàn quốc từ sau khi đất nước thống nhất cho đến tận năm 1998. Trong 37 năm, Việt Nam đã di chuyển có tổ chức được 1.368.691 hộ, trong đó di cư trong nội bộ tỉnh là 702.761 hộ với 3 342.253 người, từ tỉnh này sang tỉnh khác là 665.930 hộ với 2.809.373 người.[1]





Lý do kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]



Nhà vách đất chiếm đa số trong thời kỳ đầu khai hoang ở Tây Nguyên

Năm 1960, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết đại hội về các nhiệm vụ của kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ nhất,[1] trong đó có đoạn:




Chủ trương này của Đảng Lao động Việt Nam được thực hiện bằng việc tổ chức di dân từ các địa phương vùng đồng bằng sông Hồng lên sinh sống và sản xuất tại các địa phương miền núi và trung du phía Bắc.

Năm 1976 sau khi hai miền Nam Bắc thống nhất, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV về Phương hướng, nhiệm vụ và mục tiêu chủ yếu của Kế hoạch 5 năm 1976-1980 [2] có đoạn:




Trong khi việc di dân từ các tỉnh đồng bằng sông Hồng lên các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là các tỉnh biên giới vẫn được tiếp tục, các chương trình di chuyển lao động và di dân từ các tỉnh đồng bằng phía Bắc tới Tây Nguyên (đặc biệt là Đăk Lăk, Lâm Đồng), Đông Nam Bộ (đặc biệt là Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai), di dân từ thành phố Hồ Chí Minh [3] sang các địa phương nông thôn ở Đông và Tây Nam Bộ được triển khai.

Việc tổ chức di dân được giao cho chính quyền các địa phương và Tổng cục Khai hoang xây dựng kinh tế mới và sau này là Ban chỉ đạo Phân bố lao động và dân cư trung ương thực hiện.

Nhà nước khuyến khích mọi người lao động và gia đình chuyển đến làm ăn các vùng kinh tế mới, trước hết là lao động những vùng nông thôn có mức bình quân ruộng đất thấp và không có điều kiện phát triển ngành nghề, lao động ở thành thị thiếu việc làm hoặc không có điều kiện để được sử dụng hợp lý.

Các thành phần ở vùng kinh tế mới tuyển lao động theo độ tuổi tối đa 40 đối với nam và 35 đối với nữ. Đối với người có nghề chuyên môn, dân tộc ít người, hoặc trường hợp cần tuyển cả vợ chồng thì có thể tuyển với độ tuổi cao hơn (nam 45, nữ 40).

Miền đất đến chủ yếu là vùng làm kinh tế ở hải đảo, vùng sâu vùng xa, Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long. Người dân miền Bắc theo các chuyến tàu Bắc Nam, Người miền Nam theo xe đò được cấp tiền vé, trang bị cho mỗi lao động hai công cụ sản xuất thích hợp. Các gia đình có nhiều khó khăn được trợ cấp, được bảo vệ sức khỏe, cung cấp hàng hóa trước khi lên vùng kinh tế mới, mua mặt hàng theo tem phiếu đã cấp. Khuyến khích làm kinh tế gia đình.


Lý do chính trị[sửa | sửa mã nguồn]


Sau năm 1975 ngoài lý do kinh tế, việc di dân ra vùng kinh tế mới còn có chủ ý chính trị để giảm số người thuộc chính quyền Việt Nam Cộng hòa tập trung ở những đô thị, nhất là vùng Sài Gòn để dễ kiểm soát phần tử chống đối.[2] Trong 5 năm 1975-80 Thành phố Hồ Chí Minh đã đưa về nông thôn 832.000 người.[3] Phương pháp cưỡng bức dân thành thị đi kinh tế mới gồm thu hồi hộ khẩu, rút thẻ mua gạo và các nhu yếu phẩm, và cấm trẻ em nhập học khiến đối tượng phải di chuyển ra vùng nông thôn.[4]

Theo Lê Duẩn, phát biểu tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội chung cả nước, ngày 25 tháng 6 năm 1976:




Theo lệnh ngày 19 Tháng Năm 1976 thì chính phủ đề ra năm hạng dân thành thị phải chuyển ra vùng kinh tế mới:[6]


  1. Dân thất nghiệp

  2. Dân cư ngụ bất hợp pháp

  3. Dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân

  4. Tiểu thương gia, tiểu địa chủ, đại thương gia

  5. Người gốc Hoa, dân theo đạo Công giáo.

Chỉ tiêu là di chuyển 1.200.000 dân trong đô thành Sài Gòn ra ngoài thành phố. Con số đại thương gia còn lại ở Thành phố Hồ Chí Minh không được hơn 10% tổng số nguyên thủy.[6]
























Tổng kết di dân vùng kinh tế mới[7]
Kế hoạch 5 năm
Chỉ tiêu
Thực hiện
Trung bình mỗi năm
1976-19804 triệu1,5 triệu304.120
1981-19851 triệu1,3 triệu251.460
1986-19901,6 triệu1,1 triệu228.520
1991-19951 triệu0,9 triệu180.400
1996-20001 triệu0,2 triệu105.350
Tổng cộng8,6 triệu5 triệu239.700

Thi hành[sửa | sửa mã nguồn]


Việc thực hiện xây dựng khu kinh tế mới có hai phần: phần đất tư hữu và phần đất công của hợp tác xã. Theo phương thức sau năm 1975 thì mỗi hộ được phát 500 m² "đất sản xuất" để tự túc trồng trọt lương thực. Trên mảnh đất đó nông dân được quyền canh tác theo ý muốn sau khi đã đóng góp tám giờ mỗi ngày cho hợp tác xã. Chính phủ sẽ giúp đỡ trong sáu tháng đầu. Sau đó thì phải tự lo lấy.[8]

Trợ giúp từ chính quyền gồm:[7]


  1. Vé xe chuyên chở từ nhà đến vùng kinh tế mới. Mỗi hộ được mang theo tối đa 800 kg hành lý. Nếu chí điểm ở xa thì mỗi ngày phụ cấp thêm 1 đồng tiền ăn dọc đường cho mỗi người

  2. Hai dụng cụ canh tác, thường là cuốc, thuổng

  3. 700-900 đồng để dựng nhà ở vùng kinh tế mới

  4. 100 đồng đào giếng, 100 đồng mua ghe thuyền nếu ở vùng sông rạch

  5. 1 đồng mỗi ngày nếu đau ốm, không lao động được; 50 xu mỗi ngày tiền thuốc khi bệnh; 150 đồng để mai táng nếu chết.

Đối với khu vực kinh tế quốc doanh thì hoạt động theo mô hình hợp tác xã: công trình phục vụ sản xuất, đời sống chung cho toàn vùng, (như đê, đập, cầu, âu kè, cống, đường sá, khai hoang, xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu...), công trình khai hoang xây dựng đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu, xây dựng cải tạo đồng cỏ, khai hoang trồng rừng, chăm sóc và tu bổ rừng tự nhiên.

Các công trình phúc lợi công cộng: nhà trẻ, lớp mẫu giáo, một số phòng học trường phổ thông cơ sở, trạm y tế, cửa hàng hợp tác xã mua bán. Trụ sở làm việc, nhà hội họp v.v.

Những hợp tác xã hoặc tập đoàn sản xuất đã có ở vùng còn đất hoang hoá, đồng ruộng, cải tạo đất lần đầu và xây dựng thêm các công trình phúc lợi công cộng. Riêng đối với các cơ sở của đồng bào định canh định cư, trồng cây dài ngày, cây đặc sản, xây dựng chuồng trại chăn nuôi tập thể.

Chi thu của hợp tác xã được ấn định phải chi như sau:[8]


  • 30% trả thuế;

  • 25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;

  • 15% trả lương cho cán bộ quản lý hợp tác xã;

  • 30% còn lại chia cho các thành viên của hợp tác xã tính theo số điểm.

Theo chế độ tem phiếu thời bao cấp, người lao động trong hợp tác xã được phép mua 18 kg gạo/tháng ở giá chính thức. Người lao động phụ: 16 kg; người không lao động: 9 kg.[7]

Tổ chức các đơn vị hành chính (xã, ấp, thôn xóm...) để chăm lo cho nhân dân mới đến các yêu cầu về bảo vệ trật tự an ninh, về quản lý dân chính và các vấn đề xã hội khác.



Một làng dân miền Bắc đi kinh tế mới sau 29 năm ở Tây Nguyên




  • Nguyen Van Canh. Vietnam Under Communism, 1975-1982. Stanford, CA: Hoover Institution Press of Stanford University, 1983.

  • Trịnh Huy Quách và Hoàng Thị Tây Ninh (2004), "Vấn đề di dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc", Tạp chí Cộng sản, số 62.

  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.

  • Quyết định 95/CP ngày 27 tháng 03 năm 1980 của hội đồng chính phủ

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Kinton, Oregon – Wikipedia tiếng Việt

Kinton là một cộng đồng nhỏ chưa hợp nhất nằm trong quận Washington, Oregon, Hoa Kỳ. Nó nằm gần bờ phía bắc của sông Tualatin, gần giao lộ giữa Xa lộ Oregon 210 và Đường River, một mạch đường thôn quê chính chạy theo hướng tây bắc đến Hillsboro. Kinton nằm cách Newberg khoảng 8 dặm về phía bắc, cách Beaverton 6 dặm về phía tây nam, và cách Hillsboro 7 dặm về phía đông nam. Cộng đồng này từng là nơi phà (Phà Scholls) băng ngang sông Tualatin giữa Kinton và Scholls gần bên. Trong lúc phà được thay thế bởi một cây cầu thì Xa lộ Oregon 210 vẫn còn được người dân địa phương gọi là Lộ Scholls Ferry . Theo sách Oregon Geographic Names , Kinton được đặt tên của Peter Kindt, một người tiên phong khai phá đất hoang khi xưa khẩn được một mãnh đất gần đó. Kinton có bưu điện riêng của nó từ năm 1894–1903. Kinton là xứ rượu vang của Oregon và trong khu vực này có một số hãng làm rượu nổi tiếng. Mã bưu điện của Kinton là 97007. Mã bưu điện này cũng được dùng chung với một khu vực của thành phố Bea...

1014 - Mùa thu thời trang tại nhà: Gray

Nhiếp ảnh gia: Roger Davies chị em thời trang của chúng tôi trang web ELLE.com đã zeroed trên màu xám như là một trong những xu hướng coveted hầu hết từ các đường băng vào mùa thu năm 2013. Mang nó về nhà bằng cách tham gia một gợi ý từ thiết kế thời trang Monique Lhuillier Beverly Hills Phòng khách, trang trí theo sắc thái tinh tế, bạc màu xám. "Nó rất tonal, nhưng tôi thực sự vào kết cấu- và chúng tôi muốn thoát khỏi màu khi chúng tôi đến nhà từ văn phòng." Coveting tuyệt đẹp màu xám? Đừng bỏ lỡ sáu nhà thiết kế trên những gì họ yêu thích màu xám và tour Lhuillier toàn bộ nhà. kệ tivi kính Mùa thu thời trang tại nhà: Gray

1011 - Thiết kế nội thất - Dog Decor

1 15 nhiếp ảnh gia: Pieter Estersohn giai đoạn Nuba shar-peis đạo diễn Jean-Pascal Lévy-Trumet và tốc độ có được thoải mái trong nhà của ông ở phía Bắc Paris; ghế sofa là bởi Cappellini, và đèn chùm cổ điển được vớt lên từ một mod Champs-Élysées tóc.  2 15 nhiếp ảnh gia: Eric Piasecki Toby, một cockapoo thuộc Istvan Francer của lý thuyết, trong studio thiết kế thời trang nông thôn Connecticut ngày cuối tuần nhà; Vải màn hình bên trái là do lê trí Français.  3 15 nhiếp ảnh gia: Simon Upton Whippets Nigel và Rupert làm cho mình ở nhà trên giường của chủ sở hữu của họ, trang trí của Manhattan, James Andrew, bên dưới của chân dung màu nước của Peter Westcott; Các vải lanh bằng Pratesi. 4 15 trong Harriet Anstruther và nhiếp ảnh gia Henry Bourne 500 tuổi trang trại ở đông nam nước Anh, Elvis, Jack Russell terrier và Spaniel Jack và Lottie curl lên trên ghế sofa; lò sưởi mộc mạc được xây dựng với một thích hợp ở trên nó, nơi mà sự quyến rũ theo truyền thống được đặt để phường giảm ...